BẢN TIN VALOMA THÁNG 8/2025

Quý độc giả quan tâm có thể tải BẢN TIN VALOMA 8.2025 tại đây

Nội dung bài viết

SỰ KIỆN NỔI BẬT

Đại hội lần thứ II Hiệp hội Phát triển Nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA)

Sáng ngày 27 tháng 7 năm 2025, tại Hà Nội, Hiệp hội Phát triển Nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) đã tổ chức Đại hội toàn thể lần thứ II, nhiệm kỳ 2025 – 2029. Sự kiện diễn ra dưới hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, thu hút gần 300 đại biểu từ các bộ, ngành trung ương, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp logistics, các hiệp hội chuyên ngành và hội viên đến từ cả ba miền Bắc – Trung – Nam. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu giai đoạn phát triển mới của VALOMA với định hướng chuyên nghiệp hơn, gắn kết hơn và thực tiễn hơn.

 

Chương trình có sự tham dự của TS. Phan Đức Hiếu – Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Về phía Bộ nội vụ, chương trình được vinh dự chào đón ông Phạm Trung Giang – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ và bà Phạm Như Quỳnh – Chuyên viên Vụ Tổ chức phi chính phủ. Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, có sự tham dự của TS. Đặng Văn Huấn – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Ông Đào Trọng Độ – Trưởng phòng Giáo dục nghề nghiệp, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên. Về phía Bộ Công Thương, và Sở Công Thương, chương trình có sự tham dự của ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương và ông Vũ Đức Quỳnh – Phó phòng Quản lý thương mại, Sở Công Thương Hà Nội. Về phía Bộ Xây dựng, chương trình có sự góp mặt của TS. Nguyên Phương Hiền – Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Phát triển GTVT, và ông Vũ Khang Cường – Trưởng phòng Vận tải – An toàn và Phương tiện, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Chương trình còn có sự tham dự của ông Trần Chí Dũng – Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, ông Ngô Khắc Lễ – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam và gần 300 đại biểu, bao gồm đại diện các Bộ, ngành, các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, các doanh nghiệp logistics, hiệp hội chuyên ngành, chuyên gia, báo chí và cơ quan truyền thông. Sự tham gia đông đảo và đa dạng thành phần đã thể hiện sự quan tâm lớn của cộng đồng đối với sự phát triển nguồn nhân lực logistics tại Việt Nam trong giai đoạn mới.

 

Mở đầu cho Đại hội là diễn văn khai mạc của TS. Mai Xuân Thiệu – Chủ tịch VALOMA nhiệm kỳ 2021–2024. Tiếp đó, PGS.TS. Nguyễn Thanh Chương – Phó Chủ tịch VALOMA – thay mặt Ban Chấp hành trình bày Báo cáo Tổng kết nhiệm kỳ I và phương hướng nhiệm kỳ II. Trong nhiệm kỳ 2021–2024, VALOMA đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu, truyền thông, kết nối doanh nghiệp – nhà trường và hợp tác quốc tế. Hiệp hội đã thu hút được 216 hội viên, trong đó có 52 trường đại học và cao đẳng, 38 doanh nghiệp và 126 hội viên cá nhân – phản ánh sức hấp dẫn ngày càng tăng trong cộng đồng logistics.

 

TS. Lê Ngọc Trung – Phó Tổng Thư ký – trình bày báo cáo kiểm điểm hoạt động của Ban Chấp hành nhiệm kỳ I. Ông thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn về nhân lực chuyên trách, thiếu kinh phí và cơ chế hỗ trợ, đồng thời ghi nhận nỗ lực của tập thể Ban Chấp hành trong việc duy trì hoạt động ổn định, từng bước mở rộng ảnh hưởng của Hiệp hội.

 

Báo cáo tài chính do PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương trình bày cũng phản ánh tình hình tài chính còn nhiều thách thức. Việc thu hội phí đã có cải thiện, song các hoạt động của Hiệp hội vẫn chưa tạo ra nguồn thu bền vững, khiến việc vận hành các ban chuyên môn còn bị hạn chế.

 

Về phía kiểm tra, PGS.TS. Hà Thị Ngọc Oanh – Trưởng Ban Kiểm tra – trình bày báo cáo giám sát các phòng ban trực thuộc, trong đó nhấn mạnh sự tiến bộ rõ rệt của các ban chuyên môn trong hai năm gần đây. Bà đề xuất cần bổ sung nhân sự chuyên sâu về tài chính và pháp lý, đồng thời cải thiện cơ chế liên lạc giữa các đơn vị chức năng và Ban Kiểm tra.

 

Tại Đại hội, các đại biểu đến từ Quốc hội và các bộ ngành đã có nhiều phát biểu quan trọng định hướng chiến lược hoạt động của Hiệp hội. TS. Phan Đức Hiếu – Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Phạm Trung Giang – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ – Bộ Nội vụ, ông Đặng Văn Huấn – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học – Bộ Giáo dục và Đào tạo, ông Trần Thanh Hải – Phó Cục Trưởng Cục Xuất nhập khẩu Bộ Công thương đã đưa ra những phát biểu chỉ đạo tập trung chính về vai trò của Hiệp hội trong việc dẫn dắt kết nối với doanh nghiệp, trường đại học, tham gia phản biện tư vấn chính sách, mở rộng hợp tác với các Hiệp hội bạn, xây dựng chuẩn năng lực nghề nghiệp, chia sẻ kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, việc đặt mục tiêu khả thi, phát triển đồng đều nguồn lực ở các khu vực đặc biệt là miền Trung và Tây Nguyên cũng là những vấn đề cần được quan tâm.

 

Một nội dung trọng tâm của Đại hội là thông qua Điều lệ sửa đổi do PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa trình bày. Dự thảo điều chỉnh 9 điểm quan trọng liên quan đến quy trình kết nạp hội viên, cơ cấu tổ chức và quyền hạn của các đơn vị trong Hiệp hội. Dự thảo nhận được sự đồng thuận cao và đã được chính thức thông qua.

 

Ngay sau đó, Đại hội tiến hành bầu Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra nhiệm kỳ 2025–2029. Kết quả, Ban Chấp hành mới gồm 23 thành viên, đảm bảo tính đại diện vùng miền và lĩnh vực chuyên môn. Ban Kiểm tra nhiệm kỳ II cũng được kiện toàn với 5 thành viên có trình độ chuyên môn cao.

CƠ CẤU NHÂN SỰ NHIỆM KỲ II (2025–2029)

  • Chủ tịch VALOMA: PGS.TS. Nguyễn Thanh Chương – Chủ tịch Hội đồng Trường, Trường Đại học Giao thông Vận tải
  • Chủ tịch danh dự: Ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương
  • Phó Chủ tịch:
    • PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương – Trường Đại học Ngoại thương
    • PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa – Trường Đại học Quốc tế, ĐHQG TP.HCM
    • TS. Lê Ngọc Trung – Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại
  • Tổng Thư ký: TS. Nguyễn Thị Vân Hà – Trường Đại học Giao thông Vận tải
  • Phó Tổng Thư ký:
    • ThS. Cao Cẩm Linh – Viettel Consulting
    • TS. Lê Thị Minh Hằng – Trường Đại học Kinh tế, ĐH Đà Nẵng
    • ThS. Nguyễn Thanh Nhã – Công ty Tân Cảng – STC
  • Trưởng Ban Kiểm tra: PGS.TS. Hà Thị Ngọc Oanh
  • Thành viên Ban Kiểm tra:
    • TS. Lê Thị Mỹ Ngọc – Trường Đại học Đại Nam
    • TS. Bùi Quý Thuấn – Đại học Phenikaa
    • ThS. Trần Nguyễn Thanh Bình – Trường Đại học Bình Dương
    • TS. Đoàn Thị Nhiệm – Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Đại hội đã chính thức thông qua Nghị quyết nhiệm kỳ 2025–2029, xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới. VALOMA đặt mục tiêu mở rộng mạng lưới hội viên, triển khai các chương trình đào tạo theo vị trí việc làm, tăng cường tổ chức hội thảo, tư vấn chính sách, nâng cao năng lực đội ngũ chuyên môn, thúc đẩy hợp tác quốc tế và tích cực tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề logistics.

Việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo và xác lập phương hướng phát triển mới cho thấy quyết tâm của Hiệp hội trong việc tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, hướng đến phát triển nguồn nhân lực logistics Việt Nam chất lượng, chuyên nghiệp và hội nhập sâu rộng.

HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI VIÊN

Hội viên VALOMA tổ chức Toạ đàm quốc tế với chủ đề “Đổi mới để thích ứng: Nâng cao vai trò của Việt Nam trong hệ thống logistics toàn cầu”

Hội viên VALOMA tổ chức Tọa đàm quốc tế với chủ đề “Đổi mới để thích ứng: Nâng cao vai trò của Việt Nam trong hệ thống logistics toàn cầu”

Ngày 23/8/2025, tại Hà Nội, Khoa Đào tạo Quốc tế – Trường Đại học Giao thông Vận tải phối hợp cùng các hội viên Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) đã tổ chức thành công Tọa đàm khoa học quốc tế với chủ đề “Đổi mới để thích ứng: Nâng cao vai trò của Việt Nam trong hệ thống logistics toàn cầu”. Sự kiện thu hút sự quan tâm của đông đảo các chuyên gia, học giả, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và sinh viên trong lĩnh vực logistics và chuỗi cung ứng.

Buổi tọa đàm có sự hiện diện của nhiều diễn giả như ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), đồng thời là Chủ tịch danh dự của VALOMA; ông Trần Đức Nghĩa – Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hà Nội; đại diện từ các trường đại học thành viên VALOMA; cùng nhiều doanh nghiệp logistics hàng đầu trong nước và quốc tế. Điều này đã cho thấy tính chất học thuật – thực tiễn kết hợp, giúp tọa đàm trở thành diễn đàn đối thoại quan trọng giữa các bên trong hệ sinh thái logistics.

Trong khuôn khổ chương trình, các đại biểu đã tập trung thảo luận nhiều vấn đề nổi bật liên quan đến việc nâng cao năng lực logistics của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Các chủ đề xoay quanh những cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp logistics Việt Nam đang đối diện, bao gồm: việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả vận hành; nhu cầu cấp thiết về phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao; xu hướng liên kết và hợp tác quốc tế trong chuỗi cung ứng; cũng như định hướng chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập.

Ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh rằng logistics Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới khi chuỗi cung ứng toàn cầu có sự dịch chuyển mạnh mẽ. Tuy nhiên, để tận dụng được lợi thế, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư hạ tầng, cải thiện chất lượng dịch vụ, đồng thời tăng cường sự gắn kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo. Ý kiến này được nhiều diễn giả đồng tình, đặc biệt trong bối cảnh logistics đã trở thành ngành hạ tầng quan trọng, đóng vai trò kết nối thương mại quốc tế  hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Một điểm nhấn khác của tọa đàm là sự chú trọng đến yếu tố con người. Các trường đại học và viện nghiên cứu đã chia sẻ về kinh nghiệm xây dựng chương trình đào tạo hiện đại, gắn liền với thực tiễn doanh nghiệp, nhằm tạo ra đội ngũ nhân lực logistics không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Đây được coi là nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước khẳng định vai trò trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Kết thúc chương trình, ban tổ chức và các đại biểu đều nhất trí rằng việc tổ chức những diễn đàn học thuật – thực tiễn như Tọa đàm quốc tế này có ý nghĩa thiết thực, góp phần tạo cầu nối giữa chính sách – đào tạo – doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy sự phát triển đồng bộ của ngành logistics Việt Nam. Sự kiện không chỉ giúp lan tỏa tri thức và kinh nghiệm quốc tế, mà còn mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới, khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc đổi mới để thích ứng và nâng cao vị thế trong hệ thống logistics toàn cầu.

HOẠT ĐỘNG KẾT NỐI

Gian hàng của VALOMA tại VILOG 2025

Triển lãm Quốc tế Logistics Việt Nam lần thứ 3 (VILOG 2025) đã chính thức diễn ra từ ngày 31/7 đến 2/8 tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Sài Gòn (SECC). Với chủ đề “Chuyển đổi số – Phát triển xanh ngành logistics”, VILOG 2025 tập trung vào sức mạnh của các giải pháp số hoá và kết nối hợp tác trong việc thúc đẩy ngành logistics bền vững và hiệu quả hơn.

VILOG 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng với sự tham gia của gần 350 doanh nghiệp đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, trưng bày thiết bị, sản phẩm, giới thiệu dịch vụ và các giải pháp công nghệ tiên tiến tại 480 gian hàng thuộc các lĩnh vực chính bao gồm: Vận tải & Giao nhận, Kho thông minh và chuỗi cung ứng lạnh, Máy móc – thiết bị xử lý vật liệu, Ứng dụng công nghệ logistics, Cơ sở hạ tầng KCN và cảng biển, mang đến cái nhìn toàn diện về những tiến bộ và đổi mới trên các lĩnh vực xương sống này của ngành logistics. Triển lãm đã chào đón 15.176 lượt khách tham quan.

Không chỉ dừng lại ở hoạt động triển lãm và kết nối giao thương, VILOG còn được biết đến như một diễn đàn uy tín với chuỗi hội thảo chuyên đề, mang đến những giá trị gia tăng thiết thực cùng các góc nhìn sâu sắc, cập nhật kịp thời tình hình ngành logistics trong nước và quốc tế. Trong khuôn khổ VILOG 2025, các hội thảo chuyên đề đã được tổ chức bao gồm: hội thảo “Cơ chế tài chính thúc đẩy phát triển logistics xanh” do Tạp chí Kinh tế Tài chính tổ chức, hội thảo “Xu hướng phát triển Logistics Xanh – Số và giải pháp” do Ban Công nghệ (Hiệp hội VLA) tổ chức, Tọa đàm “Xuất khẩu và Logistics của Việt Nam hiện nay: Bối cảnh, Thách thức và Giải pháp” do Ban Giao nhận – Vận tải (Hiệp hội VLA) tổ chức.

Tại VILOG 2025, gian hàng E143 của Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) được thiết kế với gam màu đỏ nổi bật cùng không gian trưng bày hiện đại và gần gũi. Qua đó, VALOMA đã giới thiệu đến cộng đồng logistics các hoạt động nổi bật trong suốt hành trình 4 năm hình thành và phát triển, cùng những chương trình hợp tác tiêu biểu giữa Hiệp hội với các trường đại học, cao đẳng, doanh nghiệp logistics và các tổ chức quốc tế. Đặc biệt, nhiều khách tham quan tỏ ra hứng thú với thông tin về chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao tại các trường hội viên của VALOMA.

Bên cạnh trưng bày thông tin, gian hàng E143 đã đón tiếp nhiều đoàn đại biểu quan trọng như Lãnh đạo Bộ Công Thương, lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), lãnh đạo các Sở ban ngành cùng các trường đại học, cao đẳng là hội viên VALOMA. Ngoài ra, gian hàng còn chào đón hơn 1.000 lượt khách tham quan, trong đó có nhiều doanh nghiệp logistics, chuyên gia quốc tế và đông đảo sinh viên quan tâm đến định hướng nghề nghiệp. Những hoạt động kết nối, trao đổi trực tiếp đã góp phần củng cố vai trò của VALOMA như một cầu nối uy tín giữa Nhà trường – Doanh nghiệp – Xã hội.

Sự góp mặt của VALOMA tại VILOG 2025 không chỉ góp phần làm phong phú thêm bức tranh triển lãm, mà còn cho thấy vai trò quan trọng của Hiệp hội trong việc “Phát triển nhân lực – Kiến tạo tương lai”.

VALOMA kết nối Nhà trường – Doanh nghiệp: Kiến tạo mô hình đào tạo gắn với thực tiễn cho ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng

Sáng ngày 02/08/2025, Hiệp hội Phát triển Nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) đã phối hợp cùng Trường Đại học Ngoại thương và Hiệp hội Logistics Hà Nội (HNLA) tổ chức thành công Tọa đàm với chủ đề: “Mô hình kết nối Nhà trường và Doanh nghiệp trong đào tạo và tổ chức thực hành – thực tập ngành Logistics và Quản lý Chuỗi cung ứng (LSCM)”.

Sự kiện thu hút sự tham dự của đại diện Bộ Công Thương, các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp logistics trong và ngoài hiệp hội, cùng nhiều chuyên gia, giảng viên, nhà hoạch định chính sách và đại diện các hiệp hội chuyên ngành. Đặc biệt, sự hiện diện đông đảo của các trường đại học đào tạo ngành LSCM và các doanh nghiệp hội viên VALOMA thể hiện rõ sự quan tâm, cam kết và đồng hành của các bên trong việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành.

Phát biểu tại Tọa đàm, ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), Chủ tịch danh dự VALOMA, khẳng định: “Kết nối giữa Nhà trường và Doanh nghiệp không còn là xu hướng mà là yêu cầu tất yếu. Người học chỉ có thể hình thành đầy đủ năng lực nghề nghiệp khi được tiếp cận thực tiễn từ sớm; còn doanh nghiệp sẽ tuyển dụng hiệu quả hơn nếu sinh viên được chuẩn bị đúng định hướng từ môi trường đào tạo.”

Ông cũng nhấn mạnh Bộ Công Thương sẽ tiếp tục ủng hộ mô hình hợp tác ba bên Nhà trường – Doanh nghiệp – Hiệp hội như một giải pháp chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành logistics. VALOMA được ghi nhận là đơn vị đóng vai trò kết nối trung gian, điều phối hiệu quả giữa các bên, từ đó góp phần xây dựng hệ sinh thái nhân lực chất lượng, gắn với thực tiễn và chính sách phát triển ngành.

Tại sự kiện, đại diện các trường đại học như Trường Đại học Ngoại thương, Đại học Hàng hải, Trường Đại học Thăng Long… đã chia sẻ những mô hình đào tạo theo định hướng ứng dụng. Các chương trình như FTU Co-op+ được đánh giá cao bởi tính gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đặc biệt có sự hỗ trợ tích cực từ VALOMA trong việc kết nối, đánh giá và chuẩn hóa chất lượng sinh viên thực tập.

Về phía doanh nghiệp, các đại diện từ YCH Protran, Ratraco Logistics, Honda Trading Vietnam,… đã thẳng thắn nêu rõ những thách thức khi tiếp nhận sinh viên thực tập: thiếu kỹ năng mềm, chưa quen môi trường thực tế, thiếu cam kết, hiểu chưa đúng về logistics… Từ đó, doanh nghiệp kỳ vọng sinh viên cần được trang bị toàn diện hơn về chuyên môn, kỹ năng, ngoại ngữ và thái độ làm việc chuyên nghiệp – điều kiện thiết yếu để “làm được việc” ngay khi ra trường.

Tại phần thảo luận mở, PGS.TS. Trịnh Thị Thu Hương, Phó Chủ tịch VALOMA, đã khẳng định vai trò trung tâm của Hiệp hội trong mô hình hợp tác ba bên thông qua ba trụ cột chính:

Kết nối thực tập – tuyển dụng:

VALOMA là đầu mối tiếp nhận nhu cầu từ doanh nghiệp, phối hợp với các trường để giới thiệu sinh viên phù hợp. Đồng thời, tổ chức các hoạt động định hướng, tiền huấn luyện và giám sát quá trình thực tập nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra. Hệ thống dữ liệu sinh viên, cựu sinh viên và thông tin tuyển dụng cũng đang được VALOMA cập nhật thường xuyên để phục vụ hiệu quả công tác kết nối.

Phát triển đội ngũ chuyên gia:

Hiệp hội xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia là cán bộ doanh nghiệp giàu kinh nghiệm để tham gia giảng dạy, tọa đàm, cố vấn nghề nghiệp… góp phần đưa kiến thức thực tiễn vào giảng đường, làm phong phú chương trình đào tạo.

Đào tạo ngắn hạn theo vị trí việc làm:

VALOMA triển khai các khóa đào tạo ngắn hạn theo vị trí công việc cụ thể như sales logistics, chứng từ XNK, vận hành kho bãi…, bên cạnh đó là chương trình bồi dưỡng giảng viên và đào tạo nâng cao cho cán bộ quản lý doanh nghiệp – đặc biệt tại các vị trí cấp cao.

Với những nỗ lực đó, VALOMA đang định vị mình là hạ tầng trung gian quan trọng, góp phần đồng bộ hóa giữa Tuyển dụng – Đào tạo – Phát triển nhân lực, phục vụ sự phát triển bền vững của ngành.

Tọa đàm khép lại trong sự đồng thuận cao từ các bên tham gia về việc thúc đẩy mô hình hợp tác Nhà trường – Doanh nghiệp – Hiệp hội trên nguyên tắc: “Ba bên – Ba trụ cột – Một mục tiêu: Đào tạo gắn thực tiễn – Tuyển dụng hiệu quả – Phát triển bền vững ngành LSCM Việt Nam.”

Trong giai đoạn hội nhập và chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, VALOMA cam kết tiếp tục giữ vai trò hạt nhân kết nối, kiến tạo giá trị chung và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành logistics – chuỗi cung ứng, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

VALOMA tiếp tục vai trò tiên phong dẫn dắt phát triển nhân lực ngành logistics

Theo số liệu của Cục Thống kê, Việt Nam hiện có 34.476 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics với tổng số 563.354 lao động đang làm việc. Báo cáo Logistics Việt Nam 2024 ước tính rằng đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực logistics sẽ vượt 350.000 người, tuy nhiên khả năng đáp ứng hiện tại chỉ đạt khoảng 10% nhu cầu thị trường. Khoảng cách lớn giữa nhu cầu và khả năng cung ứng nhân sự này cho thấy một thách thức mang tính hệ thống trong đào tạo nhân lực logistics, đòi hỏi phải có chiến lược cải thiện toàn diện để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.
            Hoạt động đào tạo nhân lực logistics ở Việt Nam đang đối diện với bốn nhóm thách thức chủ yếu. Thứ nhất, chương trình đào tạo tại nhiều cơ sở chưa được cập nhật kịp thời so với sự phát triển nhanh của ngành, chưa tích hợp đầy đủ các xu hướng mới như e-logistics, logistics số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị chuỗi cung ứng, yêu cầu về ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) và kinh tế tuần hoàn. Việc thiết kế học phần còn thiếu tính tích hợp, chưa chú trọng kỹ năng phân tích dữ liệu, quản lý hệ thống số và xử lý tình huống thực tế, khiến sinh viên khó thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Thứ hai, đội ngũ giảng viên phần lớn xuất thân từ các ngành kinh tế, thương mại, vận tải… nên thiếu nền tảng chuyên sâu về logistics, trong khi nhiều người có kiến thức lý thuyết tốt nhưng hạn chế trải nghiệm thực tiễn, tạo khoảng cách giữa nội dung giảng dạy và thực tế ứng dụng. Thứ ba, nguồn học liệu và cơ sở vật chất còn thiếu về cả số lượng lẫn chất lượng, tài liệu giảng dạy thiên về lý thuyết, ít tình huống tại Việt Nam, chưa tích hợp hiệu quả mô hình mô phỏng; phần mềm chuyên ngành như TMS, WMS, ERP mới chỉ được áp dụng hạn chế và chưa thường xuyên sử dụng trong đào tạo. Thứ tư, kết nối giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa có cơ chế dài hạn, hoạt động thực tập còn mang tính tự phát, thiếu tiêu chuẩn đánh giá cụ thể, trong khi nhiều doanh nghiệp chưa mặn mà tiếp nhận thực tập sinh do lo ngại về chi phí, thời gian và nhân lực hướng dẫn; chính sách quản lý đào tạo nhân lực logistics chưa hình thành tiêu chuẩn kỹ năng nghề thống nhất và hệ thống đánh giá đầu ra chung, gây khó khăn cho việc tạo ra mặt bằng năng lực đồng đều cho người học.
            Để giải quyết các vấn đề nêu trên, các giải pháp được đề xuất tập trung vào nâng cao năng lực đào tạo thông qua việc cập nhật chương trình theo chu kỳ 2 năm/lần, có sự tham gia của chuyên gia, doanh nghiệp và cựu sinh viên, đồng thời bổ sung các nội dung về công nghệ mới, ESG và kinh tế tuần hoàn. Cần tăng cường đầu tư vào phần mềm mô phỏng, cơ sở dữ liệu ngành và các bài toán thực tế để người học tiếp cận gần hơn với môi trường làm việc. Mô hình “doanh nghiệp đồng hành – giảng viên song hành – sinh viên chủ động” cần được nhân rộng, áp dụng xuyên suốt từ thiết kế học phần đến đánh giá đầu ra. Thông qua Hiệp hội Phát triển Nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA), các cơ sở đào tạo nên đẩy mạnh chia sẻ học liệu, dữ liệu ngành, công nhận tín chỉ; đồng thời Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phát triển hệ thống học liệu mở và nền tảng MOOCs để tạo điều kiện tiếp cận tài nguyên học tập rộng rãi. Bên cạnh đó, mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tiếp cận mô hình đào tạo hiện đại, tiêu chuẩn quốc tế, triển khai chương trình trao đổi chuyên gia và hợp tác nghiên cứu; tham gia dự báo nhu cầu nhân lực gắn với chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0; phản biện, tư vấn chính sách về giáo dục nghề nghiệp, chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, từ đó nâng cao chất lượng và số lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành logistics Việt Nam trong tương lai.

TIN TRONG NƯỚC

Xuất nhập khẩu Việt Nam: Tôn vinh – Công bố – Kết nối – Hợp tác

Chiều 1/8, tại trụ sở Bộ Công Thương, Cục Xuất nhập khẩu đã tổ chức sự kiện “Xuất nhập khẩu Việt Nam: Tôn vinh – Công bố – Kết nối – Hợp tác”. Chương trình diễn ra dưới sự chủ trì của Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên, với sự tham dự của lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị thuộc Bộ cùng đông đảo cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Phát biểu khai mạc chương trình, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên khẳng định: Năm 2024, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô tích cực hơn so với năm 2023, cùng với sự vào cuộc mạnh mẽ của Chính phủ, các bộ, ngành và nỗ lực vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp, hoạt động xuất nhập khẩu đã phục hồi mạnh mẽ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 786,9 tỷ USD, tăng 15,5% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 405,9 tỷ USD (tăng 14,4%), nhập khẩu đạt 381 tỷ USD (tăng 16,7%).

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 432,1 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 219,9 tỷ USD (tăng 14,5%), nhập khẩu đạt 212,2 tỷ USD (tăng 17,9%).

Bộ trưởng nhấn mạnh, tăng trưởng xuất nhập khẩu đã trở thành điểm sáng của nền kinh tế, góp phần quan trọng vào ổn định vĩ mô, cân đối cán cân thanh toán, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ. Đây là minh chứng rõ nét cho vai trò then chốt của xuất khẩu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước.

Tôn vinh doanh nghiệp tiêu biểu – lan tỏa giá trị hàng Việt

Nhằm ghi nhận và tôn vinh đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp, sự kiện đã trao bằng khen cho các doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong hoạt động xuất khẩu năm 2023. Đồng thời, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên biểu dương tinh thần chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp trong việc khai thác thị trường, nâng cao giá trị thương hiệu và khẳng định vị thế hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Tại sự kiện, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 đạt từ 8,3–8,5%, hướng tới mức hai con số trong các năm tiếp theo. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ trưởng nhấn mạnh ba định hướng chiến lược trọng tâm:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tham mưu, hoàn thiện thể chế, chính sách, đặc biệt là các văn bản pháp quy nhằm nội luật hóa các cam kết trong các FTA mà Việt Nam tham gia. Đồng thời, cần đẩy mạnh thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi sản xuất – cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tăng cường năng lực phòng vệ thương mại, cảnh báo sớm các vụ kiện và tham gia hiệu quả vào các đàm phán FTA thế hệ mới.

Thứ hai, các bộ, ngành và địa phương cần phối hợp chặt chẽ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; mở cửa thị trường, đặc biệt đối với các mặt hàng nông sản, thủy sản; và xây dựng các chính sách tín dụng ưu tiên cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu để tạo điều kiện tiếp cận vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, doanh nghiệp, hiệp hội và các ngành hàng cần chủ động bám sát tình hình thị trường, có phản ứng linh hoạt trong sản xuất và xuất khẩu. Cùng với đó là việc thúc đẩy xuất khẩu chính ngạch, xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan quản lý để nắm bắt thông tin, cập nhật chính sách và tổ chức đào tạo nhằm nâng cao năng lực thâm nhập thị trường mới. Doanh nghiệp cũng được khuyến khích tích cực tham gia đóng góp ý kiến, phản biện chính sách và tham gia các đàm phán thương mại.

Công bố báo cáo xuất nhập khẩu 2024 – công cụ hỗ trợ chính sách và doanh nghiệp

Tại sự kiện, Cục Xuất nhập khẩu cũng công bố Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2024 – ấn phẩm thường niên năm thứ 8 do Bộ Công Thương chủ trì biên soạn. Báo cáo phản ánh toàn diện hoạt động xuất nhập khẩu trong năm qua, cập nhật xu hướng mới và cung cấp thông tin giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách và định hướng sản xuất, kinh doanh.

Nội dung báo cáo bao gồm số liệu thống kê, đánh giá kết quả thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA), phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại quốc tế cũng như gợi mở các khuyến nghị cho cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn tới.

 

Kết nối hợp tác truyền thông – lan tỏa thông tin chính sách

Một điểm nhấn quan trọng trong sự kiện là Lễ ký kết chương trình hợp tác giữa Cục Xuất nhập khẩu và các đơn vị truyền thông ngành Công Thương gồm: Báo Công Thương, Tạp chí Công Thương, Nhà Xuất bản Công Thương và Trung tâm Thông tin Công nghiệp & Thương mại. Thỏa thuận nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách, cập nhật kịp thời diễn biến thương mại quốc tế, từ đó tăng cường năng lực tiếp cận thông tin của doanh nghiệp và xã hội.

Phát biểu chỉ đạo, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đánh giá cao sự chủ động của các đơn vị truyền thông ngành trong thời gian qua, đồng thời yêu cầu tiếp tục phối hợp chặt chẽ, nâng cao chất lượng nội dung truyền thông, đảm bảo thông tin đến với doanh nghiệp một cách nhanh chóng, chính xác và có định hướng.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh tinh thần đồng hành, lắng nghe, cầu thị giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp, coi đây là nền tảng để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, tạo thuận lợi cho sản xuất – kinh doanh, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước.

Ra mắt Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2024: Cung cấp thông tin toàn diện, hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp

Chiều ngày 1/8, tại Hà Nội, Bộ Công Thương tổ chức Lễ công bố Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2024. Đây là năm thứ 8 liên tiếp báo cáo được phát hành, phản ánh toàn diện bức tranh xuất nhập khẩu hàng hóa, góp phần cung cấp thông tin kịp thời và hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các bên liên quan.

Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Công Thương – Nguyễn Sinh Nhật Tân khẳng định: Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam là ấn phẩm chính thống, được xây dựng bài bản, phản ánh đầy đủ, đa chiều và toàn diện hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta trong từng năm. Đồng thời, báo cáo cũng phân tích xu hướng, đánh giá kết quả thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA), các chính sách và bối cảnh kinh tế, thương mại thế giới, từ đó hỗ trợ cơ quan quản lý hoạch định chính sách và định hướng hoạt động cho doanh nghiệp.

Năm 2024, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 683 tỷ USD, tăng 15,5% so với năm 2023. Trong đó, xuất khẩu đạt 356 tỷ USD, tăng 14,4%; nhập khẩu đạt 327 tỷ USD, tăng 16,7%. Đây là năm thứ 9 liên tiếp Việt Nam xuất siêu, với mức thặng dư thương mại lên tới 24,8 tỷ USD.

Báo cáo năm nay tiếp tục cập nhật, bổ sung nhiều nội dung mới, trong đó đáng chú ý là phần phân tích chuyên sâu về thương mại điện tử xuyên biên giới, các vấn đề về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong xuất nhập khẩu. Ngoài ra, báo cáo cũng thống kê, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, danh mục hàng hóa bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại từ nước ngoài, cũng như các biện pháp phòng vệ do Việt Nam thực hiện.

Đặc biệt, báo cáo cung cấp thông tin về các đề án hỗ trợ doanh nghiệp khai thác FTA, hệ sinh thái hỗ trợ thực thi FTA tại địa phương, từ đó giúp doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các ưu đãi thương mại trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt.

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh: Báo cáo không chỉ là tài liệu tra cứu hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, giới nghiên cứu và doanh nghiệp, mà còn là công cụ hỗ trợ việc đánh giá, dự báo xu hướng thương mại trong tương lai, nhất là khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu.

Tại sự kiện, Bộ Công Thương cũng tổ chức lễ tôn vinh các doanh nghiệp xuất khẩu tiêu biểu, đồng thời công bố các chương trình hợp tác nhằm tăng cường kết nối, truyền thông và chia sẻ thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp. Những hoạt động này nằm trong khuôn khổ sự kiện “Xuất nhập khẩu Việt Nam: Tôn vinh – Công bố – Kết nối – Hợp tác” do Bộ Công Thương chủ trì tổ chức.

Vietnam Airlines lập hãng hàng không chuyên chở hàng hóa – Chiến lược hội nhập quốc tế mới

Vietnam Airlines đang xúc tiến kế hoạch thành lập hãng hàng không chuyên chở hàng hóa, coi đây là một chiến lược trọng điểm trong lộ trình mở rộng kết nối toàn cầu và đồng hành cùng tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước.

Theo tờ trình mới nhất gửi Hội đồng quản trị, hãng sẽ triển khai phương án thuê khô tàu bay chở hàng thân hẹp (Freighter) để khai thác. Các chuyên gia nhận định, việc xây dựng hãng vận tải hàng hóa chuyên biệt sẽ giúp Vietnam Airlines hội nhập sâu hơn vào mạng lưới logistics hàng không toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh cả nước đang triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Bối cảnh thị trường và cơ hội tăng trưởng

Cùng với sự phục hồi mạnh của vận tải hành khách, phân khúc vận tải hàng hóa hàng không cũng khởi sắc. Trong 7 tháng đầu năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 514,7 tỉ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu tăng 14,8% và nhập khẩu tăng 17,9%. Dự báo giai đoạn 2025–2035, thị trường vận tải hàng không Việt Nam sẽ duy trì mức tăng trưởng khoảng 8%/năm.

Trên thế giới, Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA) dự báo sản lượng hàng hóa luân chuyển toàn cầu năm 2025 tăng 6%, doanh thu tăng 5,4% so với 2024. Việt Nam hiện nằm trên các tuyến hàng không lớn nhất thế giới (châu Á – Bắc Mỹ, châu Á – châu Âu và nội vùng châu Á), chiếm gần 2/3 sản lượng hàng hóa toàn cầu với tốc độ tăng trưởng bình quân 5,6% giai đoạn 2015–2024.

Tuy nhiên, hơn 80% thị phần vận tải hàng hóa qua các cảng hàng không Việt Nam đang nằm trong tay các hãng nước ngoài. Vietnam Airlines hiện chỉ khai thác hàng hóa trên các chuyến bay chở khách, chưa có đội bay chuyên dụng, thị phần quốc tế chỉ đạt 12–13%. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để hãng đầu tư phát triển đội bay Freighter và hệ sinh thái logistics hàng không nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tối ưu hóa lợi thế, nâng tầm cạnh tranh

So với các hãng lớn trong khu vực như Korean Air, Cathay Pacific hay China Airlines, hệ sinh thái logistics hàng không của Vietnam Airlines vẫn thiếu các cấu phần chiến lược: đội bay chở hàng chuyên dụng, năng lực khai thác đa điểm quốc tế, trung tâm logistics tích hợp (air cargo hub) và dịch vụ hậu cần giá trị gia tăng.

Theo kế hoạch, Vietnam Airlines sẽ thực hiện phát triển hệ sinh thái logistics hàng không gồm nhà ga hàng hóa và ga chuyển phát nhanh tại sân bay Long Thành, cùng các kho giao nhận tại Long Thành và Gia Bình. Lựa chọn máy bay A321 để chuyển đổi thành tàu Freighter, dự kiến khai thác từ quý IV/2025 trên các đường bay khu vực. Tiến tới thành lập hãng hàng không vận tải hàng hóa giai đoạn 2029–2035, với mục tiêu lọt Top 2 Đông Nam Á và Top 10 châu Á.

Hãng hiện đã làm việc với Airbus, Boeing và nhiều đơn vị cho thuê máy bay như Air Lease, Aercap, Titan, ST Engineering, Avolon… để xúc tiến hợp đồng thuê tàu chở hàng.

Tác động kỳ vọng

Việc ra đời hãng hàng không chuyên chở hàng hóa sẽ giúp Việt Nam cân bằng thương quyền vận tải hàng không với các hãng nước ngoài, giảm chi phí vận chuyển cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp FDI tối ưu hoạt động, đồng thời mở rộng kết nối tới các trung tâm logistics toàn cầu. Đây là bước đi phù hợp với định hướng hội nhập kinh tế quốc tế theo Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị.

Hỗ trợ chính sách tài chính – động lực thúc đẩy logistics xanh

Chuyển đổi sang logistics xanh là xu thế tất yếu khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, quá trình này không hề dễ dàng, bởi doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí đầu tư cao và hạn chế về nguồn lực tài chính. Vì vậy, chính sách tài chính được xem là yếu tố then chốt.

Hiện ngành logistics đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam, với quy mô thị trường khoảng 40–42 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 14–16% – nằm trong nhóm cao nhất Đông Nam Á. Dù vậy, chi phí logistics vẫn chiếm tới 16–18% GDP, và đây cũng là lĩnh vực phát thải carbon đáng kể, đặc biệt ở mảng vận tải đường bộ.

Chính vì thế, phát triển logistics xanh đã trở thành nội dung trọng tâm trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia, đồng thời gắn liền với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Chính phủ Việt Nam. Tại TP. Hồ Chí Minh, cảng Tân Cảng – Cát Lái (Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn) là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam được Hội đồng Mạng lưới dịch vụ cảng APEC công nhận danh hiệu Cảng xanh.

Cảng này đã đầu tư hệ thống thiết bị chạy hoàn toàn bằng điện, như cẩu bờ và cẩu bãi, giúp giảm lượng CO₂ so với các thiết bị dùng dầu diesel. Dù chuyển đổi xanh và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững là xu hướng tất yếu, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp trở ngại lớn: thiếu vốn, hạn chế về công nghệ, nhân lực chuyên môn và áp lực từ chuỗi giá trị toàn cầu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa càng khó tiếp cận nguồn tài chính xanh.

Tại tọa đàm “Chính sách tài chính phát triển logistics xanh” ở TP. Hồ Chí Minh, các chuyên gia nhận định: logistics xanh khó có thể hình thành và phát triển nếu thiếu những chính sách tài chính hỗ trợ kịp thời, đủ mạnh và hiệu quả. Việc đầu tư công nghệ xanh, phương tiện vận tải sạch, kho bãi tiết kiệm năng lượng hay hệ thống số hóa quản lý phát thải… đều đòi hỏi nguồn lực lớn về tài chính, kỹ thuật lẫn nhân sự.

Theo chuyên gia kinh tế Đỗ Thiên Anh Tuấn (Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright), thị trường tài chính xanh ở Việt Nam mới ở giai đoạn sơ khai. Nhu cầu tài chính xanh đến năm 2050 ước khoảng 700 tỷ USD, trong đó riêng tín dụng cần tới 250 tỷ USD (tương đương 6,8% GDP mỗi năm). Dù vậy, tín dụng xanh hiện chỉ chiếm 4,35% tổng dư nợ, chủ yếu tập trung ở lĩnh vực năng lượng tái tạo và nông nghiệp. Nếu không có bước cải cách quyết liệt, mục tiêu 10% vào năm 2025 khó hoàn thành.

Ông Lê Kim Cương – Phó Giám đốc Trung tâm dịch vụ logistics (Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn) – cho biết, trong lộ trình xanh hóa, đơn vị chú trọng chuyển đổi vận tải từ đường bộ sang đường thủy, song vẫn vướng hạ tầng cảng. Dù đã có quy hoạch, tiến độ các dự án cảng và bến thủy nội địa chưa đáp ứng yêu cầu. Ông kiến nghị cần có chính sách ưu đãi thuế, phí để khuyến khích sử dụng phương tiện thủy.

Về chính sách tài chính, ông Đặng Vũ Thành – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) – nhấn mạnh: nếu triển khai hiệu quả các giải pháp như tín dụng xanh, ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất hay quỹ đổi mới công nghệ, doanh nghiệp sẽ có động lực áp dụng mô hình thân thiện môi trường, đóng góp vào tăng trưởng xanh. Theo ông, chính sách cần được thiết kế tổng thể, bao gồm khuyến khích đầu tư, bảo lãnh vay vốn, ưu đãi thuế và phối hợp đồng bộ giữa các bộ ngành. Khi hải quan số hóa, ngân hàng linh hoạt và địa phương đồng thuận, sẽ hình thành hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh hiệu quả.

“Muốn chuyển đổi thành công, cần sự chung tay của toàn hệ thống – từ Chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức tài chính tới cộng đồng. Vì một chuỗi cung ứng không đánh đổi môi trường, vì một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau,” ông Thành khẳng định.

Ngoài chính sách tài chính, nỗ lực số hóa từ cơ quan quản lý cũng góp phần giảm chi phí logistics. Ông Đào Duy Tám – Trưởng ban Giám sát quản lý về hải quan (Cục Hải quan) – cho biết, từ năm 2020, ngành hải quan đã triển khai thủ tục điện tử, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Tại các cửa khẩu cảng biển và đường bộ, hải quan đang đẩy mạnh ứng dụng AI, IoT, blockchain, camera giám sát, cảm biến, thiết bị soi chiếu, Big Data và hệ thống chia sẻ thông tin đa bên.

Nhờ vậy, ngành hải quan có thể phối hợp cùng doanh nghiệp cảng và công ty logistics tối ưu hóa quy trình xếp dỡ, lập lộ trình vận chuyển hợp lý, giảm quãng đường di chuyển, tiết kiệm nhiên liệu, thời gian và chi phí – qua đó góp phần thúc đẩy chuỗi cung ứng cũng như phát triển logistics xanh.

Ngành logistics trên đường đua công nghệ

Công nghệ 4.0 đã được hơn 60% doanh nghiệp logistics tại Việt Nam áp dụng, giúp tiết kiệm đáng kể chi phí và thời gian vận hành. Sự xuất hiện của các công nghệ mới như AI và Blockchain được kỳ vọng sẽ mở rộng thêm dư địa phát triển cho ngành.

Hiện thị trường logistics Việt Nam được định giá khoảng 80 tỷ USD, tương đương gần 5% GDP. Tuy nhiên, chi phí logistics vẫn cao hơn mức trung bình khu vực và thế giới, buộc các doanh nghiệp – đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất và bán lẻ – phải đẩy mạnh tinh gọn chuỗi cung ứng và đầu tư vào hạ tầng hiện đại.

Nhu cầu chuyển đổi số trong ngành gia tăng mạnh mẽ để đáp ứng tốc độ bùng nổ của thương mại điện tử và hoạt động xuất nhập khẩu. Xu hướng nổi bật gồm xây dựng chuỗi cung ứng thông minh, triển khai hệ thống quản trị thời gian thực và phát triển mô hình kho bãi linh hoạt.

Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), đến cuối năm 2024, 61% doanh nghiệp Việt đã đưa công nghệ số vào logistics, giúp giảm chi phí trung bình 23% và rút ngắn thời gian xử lý đơn hàng tới 35% nhờ tự động hóa.

Ở mảng kho bãi, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh ứng dụng AI, IoT và Big Data. Giao hàng tiết kiệm (GHTK) – đơn vị sở hữu hơn 600.000 m² kho bãi – đã xây dựng hệ sinh thái IoT kết nối hàng triệu thiết bị như máy quét, băng chuyền, cảm biến, camera và thiết bị đeo, giúp hệ thống chia chọn hoạt động thông minh và giám sát thời gian thực. AI và Machine Learning được ứng dụng để dự báo nhu cầu, tối ưu lịch trình, tuyến đường và phân tích phản hồi khách hàng.

BEST Express cũng đầu tư mạnh vào công nghệ. Theo ông Gavin Lu – Tổng giám đốc BEST Việt Nam – đơn vị đang vận hành hai hệ thống lõi DWS (Dimensioning Weighing Scanning) và WCS (Warehouse Control System), tích hợp AI để tự động điều phối luồng hàng hóa. Nhờ đó, trung tâm có thể xử lý hơn 1 triệu đơn/ngày và rút ngắn thời gian giao hàng xuống dưới 48 giờ.

Năm 2025, mô hình “micro fulfillment” – các kho nhỏ gần khu dân cư – được dự báo sẽ phát triển mạnh, đặc biệt với doanh nghiệp bán lẻ có số lượng SKU lớn. Nhiều “ông lớn” đang mở thêm kho vệ tinh để tăng tốc xử lý đơn hàng.

Theo Viet Research, tỷ lệ doanh nghiệp logistics Việt thành công trong chuyển đổi số hiện mới đạt khoảng 27%, nhưng con số này sẽ tăng mạnh thời gian tới. AI, Machine Learning, Blockchain, IoT và Big Data sẽ tiếp tục đóng vai trò trung tâm, giúp tối ưu tồn kho, dự báo nhu cầu, tối ưu tuyến giao hàng và đảm bảo minh bạch chuỗi cung ứng.

Ngoài chuyển đổi số, logistics xanh cũng là xu hướng chiến lược. Yêu cầu bắt buộc kê khai phát thải từ các thị trường xuất khẩu đang thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi hạ tầng và phương thức vận tải. DHL đã triển khai xe tải điện tại Việt Nam và toàn cầu, đặt mục tiêu thay thế hoàn toàn phương tiện truyền thống trong 3–5 năm tới. Viettel Post, Tân Cảng Sài Gòn, Transimex… cũng áp dụng ESG, chuyển sang vận tải thủy và đầu tư thiết bị tiết kiệm năng lượng.

Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn thận trọng. Ông Phạm Tấn Công – Chủ tịch VCCI – nhấn mạnh rằng ESG, Net Zero và thuế carbon đang trở thành rào cản kỹ thuật, buộc doanh nghiệp phải chuyển đổi để tồn tại. “Logistics xanh không còn là lựa chọn mà là điều kiện sống còn cho doanh nghiệp Việt Nam trong chiến lược phát triển bền vững toàn cầu,” ông nói.

Các chuyên gia khuyến nghị, để thúc đẩy logistics xanh, doanh nghiệp cần chuyển sang phương tiện sử dụng điện tái tạo, hydrogen, LNG; ưu tiên đường thủy, đường sắt; và tối ưu quy trình vận tải để giảm lượng xe chạy rỗng, đồng thời phát triển kho, cảng thông minh.

TIN KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI

Tàu Ever Lunar của Evergreen làm rơi 50 container xuống biển tại Vịnh Callao, Peru

Ngày 1/8, khoảng 50 container đã rơi xuống biển từ tàu container Ever Lunar mang cờ Đài Loan, thuộc hãng Evergreen, khi tàu đang neo đậu tại Vịnh Callao (Peru). Nguyên nhân ban đầu được xác định là do tàu chòng chành mạnh, khiến các container ở khu vực đuôi tàu rơi xuống nước.

Sự cố buộc Cảng Callao phải tạm thời đóng cửa, làm gián đoạn hoạt động xếp dỡ và lưu thông tàu bè trong khu vực. Các bến cảng lớn như DP World Callao, APM Terminals cùng nhiều cơ sở liên quan đã tạm ngừng hoạt động. Cơ quan chức năng đã ban hành khuyến cáo an toàn hàng hải và đình chỉ di chuyển tàu trên toàn vịnh.

Theo Trung tâm Điều hành Khẩn cấp Quốc gia (Coen) thuộc Viện Phòng vệ Dân sự Quốc gia (Indeci), các container rơi xuống biển không chứa hàng hóa nguy hiểm. Cơ quan Quản lý Cảng Quốc gia (APN) cho biết công tác trục vớt sẽ do các đơn vị cứu hộ chuyên nghiệp thực hiện, dưới sự phối hợp của Cơ quan Hàng hải.

Hai tàu tuần tra Costa Sama và Río Chira đã được triển khai để bảo vệ khu vực, trong khi các tàu kéo Ram Vigo và Tiamat tiếp cận tàu Ever Lunar để hỗ trợ thu hồi container trôi nổi. Evergreen xác nhận đã huy động tàu kéo nhằm khẩn trương khắc phục sự cố.

Hiện chính quyền đang tiến hành điều tra nguyên nhân vụ việc. Đây là sự cố rơi container thứ hai liên quan đến tàu của Evergreen chỉ trong vòng ít ngày. Trước đó, ngày 29/7, tàu Ever Feat của hãng cũng gặp sự cố sập xếp container trên hành trình từ Brazil đến Uruguay, khiến khoảng 30–40 container bị hư hỏng.

Các hãng tàu container châu Á đối mặt nguy cơ sụt giảm lợi nhuận do nhu cầu yếu và dư cung

Sau giai đoạn bùng nổ ngắn hạn nhờ hoạt động gom hàng né thuế, các hãng tàu container châu Á được dự báo sẽ bước vào nửa cuối năm 2025 với lợi nhuận suy giảm, nguyên nhân đến từ nhu cầu vận tải yếu đi và tình trạng dư cung gia tăng.

Theo các chuyên gia, giá cước vận tải biển có thể giảm mạnh vào cuối năm, khi nhu cầu tăng đột biến do thuế quan trong quý II đã kéo trước sản lượng của mùa cao điểm truyền thống quý III. Trước đó, thương mại xuyên Thái Bình Dương tăng trưởng tích cực trong giai đoạn “ngừng bắn” thuế quan Mỹ – Trung, đẩy giá cước tháng 6 lên cao. Một số hãng tàu nhỏ, như China United Lines, thậm chí đã nối lại dịch vụ xuyên Thái Bình Dương sau thời gian gián đoạn.

Ông Philip Damas, Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng bộ phận Tư vấn Chuỗi cung ứng của Drewry Group, nhận định: “Phần còn lại của năm có thể ảm đạm hơn, khi tăng trưởng thương mại chậm lại, tâm lý thị trường vẫn yếu và sản lượng vận chuyển sớm dễ kéo theo những đợt giảm giá sâu.”

Báo cáo tài chính từ các hãng tàu Nhật Bản cho thấy dấu hiệu suy yếu. Mitsui OSK Lines chịu tác động tiêu cực từ nguy cơ thuế quan Mỹ, trong khi Nippon Yusen KK đã hạ dự báo lợi nhuận cả năm do biến động tiền tệ và rủi ro từ chính sách thuế. Ngược lại, một số hãng tàu Trung Quốc như Cosco Shipping Holdings vẫn hưởng lợi ngắn hạn từ xuất khẩu mạnh mẽ và hoạt động gom hàng sớm. Tuy nhiên, sản lượng thương mại Trung Quốc đã bắt đầu chậm lại sau khi đạt kỷ lục, cho thấy đà tăng này khó duy trì.

HSBC cảnh báo tình trạng dư cung sẽ trầm trọng hơn khi lịch giao tàu mới trùng với giai đoạn nhu cầu suy yếu. Từ quý III, lưu lượng container xuyên Thái Bình Dương được dự báo giảm, chỉ tăng nhẹ theo mùa vào quý II/2026. Ông Damas nhấn mạnh: “Thị trường vận tải container hiện trong chu kỳ suy thoái, các đợt tăng giá chỉ mang tính tạm thời và do yếu tố gián đoạn, không phải sức cầu bền vững.”

Không chỉ Trung Quốc và Nhật Bản, các hãng tàu Đài Loan như Evergreen Marine và Yang Ming Marine Transport cũng có thể chứng kiến lợi nhuận giảm hơn 50% do bất ổn thương mại. Ở châu Âu, các hãng lớn như AP Moller-Maersk và Hapag-Lloyd được dự báo tiếp tục đà suy giảm.

Dù đàm phán thương mại Mỹ – Trung đang tiến triển, mức thuế mới (như 15% đối với Nhật Bản) vẫn cao hơn so với năm ngoái, gây sức ép lên xuất khẩu. Đối với Trung Quốc, tác động cụ thể của mức thuế điều chỉnh còn chưa rõ, song xuất khẩu sang các thị trường ngoài Mỹ, đặc biệt Đông Nam Á, đang tăng nhanh. Trong 6 tháng đầu năm, thặng dư thương mại Trung Quốc đạt kỷ lục nhờ đa dạng hóa thị trường.

Theo ông Loh (BI), các tuyến thương mại nội Á đang nổi lên thay thế tuyến xuyên Thái Bình Dương về tầm quan trọng toàn cầu. Kể từ tháng 3/2025, sản lượng xuất khẩu Trung Quốc – ASEAN đã gấp đôi tuyến Trung Quốc – Mỹ. Drewry cũng ghi nhận xu hướng các hãng tàu điều chuyển tàu khỏi tuyến kết nối Mỹ để tránh khoản phí mới dự kiến áp dụng từ tháng 10.

Ông Damas dự báo: “Trong nửa cuối năm, các hãng tàu sẽ tiếp tục hủy chuyến, tăng cường phá dỡ tàu và áp dụng biện pháp quản lý công suất nhằm đối phó với tình trạng dư cung.”

DHL Express đẩy mạnh vận tải hàng không xanh tại Singapore

DHL và Neste vừa bắt tay triển khai SAF tại Singapore, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hành trình giảm phát thải khí nhà kính của ngành vận tải hàng không khu vực.

Là nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế hàng đầu thế giới, DHL Express mới đây đã ký kết một thỏa thuận quan trọng với Neste – nhà sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (SAF). Theo đó, từ tháng 7/2025, khoảng 9,5 triệu lít (tương đương 7.400 tấn) nhiên liệu Neste MY Sustainable Aviation Fuel sẽ được cung cấp cho DHL Express tại Singapore nhằm thúc đẩy vận tải hàng không phát thải thấp ở châu Á.

Xét về sản lượng, đây là một trong những hợp đồng SAF lớn nhất tại châu Á trong lĩnh vực vận tải hàng hóa hàng không. Loại nhiên liệu này, được sản xuất tại nhà máy lọc dầu của Neste ở Singapore – hiện là cơ sở sản xuất SAF lớn nhất thế giới, sẽ đáp ứng khoảng 35% – 40% nhu cầu nhiên liệu của 5 máy bay Boeing 777 thuộc DHL Express hoạt động tại trung tâm South Asia Hub, sân bay Changi. Các máy bay này thực hiện 12 chuyến bay liên lục địa mỗi tuần, kết nối Singapore với cả châu Á và châu Mỹ.

“Việc hợp tác cùng Neste để triển khai SAF trên các chuyến bay hàng hóa quốc tế từ Singapore là một cột mốc quan trọng. Điều này giúp chúng tôi tiếp tục dẫn đầu trong lĩnh vực logistics bền vững và mở rộng các ưu tiên theo Chiến lược 2030, trong đó năng lượng mới là một trọng tâm,” ông Christopher Ong – Giám đốc điều hành DHL Express Singapore – chia sẻ.

Nhiên liệu SAF sẽ được pha trộn với nhiên liệu máy bay truyền thống và đưa vào hệ thống phân phối nhiên liệu tại sân bay Changi. Theo Neste, việc sử dụng Neste MY SAF có thể cắt giảm tới 80% khí thải nhà kính trong toàn bộ vòng đời so với nhiên liệu hàng không hóa thạch.

Động thái này cũng đồng thời hỗ trợ mục tiêu quốc gia của Singapore về SAF, hướng tới việc đạt tỷ lệ 1% SAF cho tất cả chuyến bay xuất phát từ nước này vào năm 2026. Ông Carl Nyberg – Phó chủ tịch cấp cao phụ trách mảng thương mại của Neste – nhận định: “Thỏa thuận này chứng minh rằng SAF hiện đã sẵn sàng mở rộng quy mô, đồng thời phản ánh cam kết của chúng tôi trong việc hỗ trợ DHL đạt các mục tiêu giảm phát thải toàn cầu.”

Hiện nay, DHL là một trong những doanh nghiệp sử dụng SAF nhiều nhất thế giới, vận hành tại nhiều sân bay lớn như Amsterdam, Stockholm, Los Angeles và Tokyo. Năm 2022, công ty đã giới thiệu dịch vụ GoGreen Plus – dịch vụ vận chuyển quốc tế đầu tiên cho phép khách hàng bù đắp phát thải gián tiếp (Scope 3) thông qua SAF theo mô hình “book & claim”, được xác minh minh bạch.

Tại Singapore, DHL Express cũng đang đầu tư mạnh vào logistics xanh với đội 100 xe điện phục vụ chặng giao hàng cuối, trở thành đội xe van thương mại chạy điện lớn nhất tại quốc gia này.